Biên giới, biển đảo

 

 

  

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 340

  • Tổng 3.804.870

Đối ngoại, hội nhập quốc tế - Trụ cột chiến lược trong tư duy phát triển của Đảng tại Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV

15:36, Thứ Tư, 10-12-2025

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Trong Dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế lần đầu tiên được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đặt ngang hàng với quốc phòng và an ninh. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng, thể hiện tầm nhìn chủ động, toàn diện và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của Việt Nam trong bối cảnh thế giới chuyển biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường.

1. Đối ngoại và hội nhập quốc tế: Từ vai trò hỗ trợ đến trụ cột chiến lược của quốc gia

Việc nâng tầm đối ngoại và hội nhập quốc tế thành một trong ba nhiệm vụ trọng yếu cùng với quốc phòng và an ninh phản ánh sự chuyển biến lớn trong nhận thức và hành động của Đảng ta. Đây không còn là công cụ bổ trợ, mà là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược phát triển và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Từ thực tiễn gần 40 năm đổi mới, có thể thấy rõ vai trò then chốt của đối ngoại trong việc mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, tạo lập môi trường hòa bình và thu hút nguồn lực bên ngoài. Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với hầu hết các cường quốc, trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức quốc tế, tham gia chủ động vào các tiến trình đa phương quan trọng như ASEAN, Liên Hợp Quốc, APEC, WTO…

Đối ngoại trở thành kênh tiên phong tạo dựng thế và lực mới cho đất nước. Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều gắn liền với một mốc đối ngoại chiến lược: từ việc gia nhập ASEAN (1995), ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (2000), gia nhập WTO (2007), cho đến ký kết loạt FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA… Những bước ngoặt ấy không chỉ mở cửa thị trường mà còn thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã kế thừa và nâng tầm tư duy ấy khi khẳng định: “Xây dựng và triển khai nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân hoạt động đồng bộ, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững”.

2. Ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ: Những mũi đột phá chiến lược

Một điểm nhấn quan trọng trong Dự thảo là định hướng “đẩy mạnh ngoại giao phục vụ phát triển, lấy ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học - công nghệ làm trung tâm và mũi nhọn tiên phong”. Đây là định hướng có tính đột phá, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay, trong đó đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo.

Ngoại giao kinh tế không chỉ dừng lại ở xúc tiến đầu tư, thương mại, mà còn đóng vai trò mở đường cho doanh nghiệp, kết nối chuỗi giá trị toàn cầu, tạo lập môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Dự thảo yêu cầu đẩy mạnh triển khai các FTA thế hệ mới, nâng cao năng lực đàm phán và thực thi cam kết quốc tế, đồng thời tranh thủ hỗ trợ kỹ thuật, tiếp thu mô hình quản trị tiên tiến từ các đối tác phát triển.

Đặc biệt, ngoại giao công nghệ lần đầu được đưa vào như một mũi nhọn của ngoại giao Việt Nam. Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ xanh là những yếu tố định hình trật tự thế giới mới, việc chủ động thiết lập các quan hệ hợp tác công nghệ với các đối tác chiến lược, vận động chuyển giao công nghệ, tiếp cận nguồn tài chính xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao là vô cùng cấp thiết. Bộ Ngoại giao và Bộ Khoa học – Công nghệ đã bắt đầu triển khai các chương trình hành động chung, thúc đẩy các sáng kiến hợp tác quốc tế về đổi mới sáng tạo, tham gia vào các diễn đàn toàn cầu về AI, an ninh mạng, phát triển bền vững…

3. Ngoại giao văn hóa và con người: Khơi dậy sức mạnh mềm quốc gia

Cùng với kinh tế và công nghệ, ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân được xác định là trụ cột để nâng cao sức mạnh mềm quốc gia - yếu tố ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế hiện đại. Dự thảo nhấn mạnh nhiệm vụ: “Quảng bá sâu rộng hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới; phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”.

Trong những năm qua, các hoạt động đối ngoại văn hóa đã góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam thân thiện, năng động, hội nhập và đổi mới sáng tạo. Các chương trình nghệ thuật, ẩm thực, điện ảnh, văn học Việt được giới thiệu tại hơn 30 quốc gia; hàng trăm sự kiện văn hóa Việt đã được tổ chức trong khuôn khổ các năm chéo, các hội chợ, triển lãm quốc tế… Không chỉ vậy, các di sản văn hóa và thiên nhiên của Việt Nam như Truyện Kiều, Ca trù, Nhã nhạc Cung đình, Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng… đã được UNESCO công nhận, góp phần nâng tầm vị thế Việt Nam trên bản đồ văn hóa thế giới.

Hơn 5,3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài đang sinh sống tại 130 quốc gia là nguồn lực mềm quý báu. Đảng xác định phải đẩy mạnh kết nối kiều bào với quê hương, phát huy vai trò cầu nối, “đại sứ nhân dân” của cộng đồng người Việt trong việc quảng bá văn hóa, truyền thống và lợi ích quốc gia.

4. Ngoại giao toàn diện, chủ động, hiện đại trong kỷ nguyên mới

Dự thảo Văn kiện xác định rõ yêu cầu xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện và hiện đại, hoạt động đồng bộ, hiệu quả của ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Ngoại giao toàn diện nghĩa là không chỉ giới hạn ở ngoại giao chính trị, mà bao gồm cả kinh tế, văn hóa, quốc phòng, môi trường, khoa học - công nghệ, và cả ngoại giao nghị viện, ngoại giao địa phương.

Ngoại giao hiện đại yêu cầu áp dụng công nghệ số, chuyển đổi số trong hoạt động đối ngoại, sử dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo để phân tích, dự báo chiến lược, nâng cao hiệu quả tham mưu và xử lý tình huống. Bên cạnh đó, ngoại giao số sẽ hỗ trợ truyền thông đối ngoại, tạo lập hình ảnh quốc gia số trong lòng công chúng quốc tế.

5. Xây dựng đội ngũ cán bộ và hoàn thiện thể chế đối ngoại

Để triển khai hiệu quả chiến lược đối ngoại mới, Dự thảo nêu rõ cần phát triển đội ngũ cán bộ ngoại giao “vừa hồng, vừa chuyên”: có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông chuyên môn, giỏi ngoại ngữ và am hiểu luật pháp quốc tế. Đồng thời, chú trọng đào tạo chuyên sâu theo lĩnh vực, đặc biệt là các mảng mới như ngoại giao kinh tế số, ngoại giao công nghệ, an ninh phi truyền thống…

Hoàn thiện thể chế đối ngoại cũng là yêu cầu then chốt. Dự thảo đề xuất rà soát, sửa đổi các văn bản pháp lý về công tác đối ngoại để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, kịp thời và phù hợp với tình hình mới. Tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương và cơ quan đại diện ở nước ngoài để nâng cao tính chủ động, linh hoạt trong xử lý tình huống quốc tế.

Có thể thấy, Dự thảo Nghị quyết Đại hội XIV không chỉ tiếp nối mà còn mở rộng tư duy đối ngoại chiến lược của Đảng, từ chỗ “đi cùng phát triển” đến “mở đường cho phát triển”, từ vai trò hỗ trợ sang vai trò chủ động, tiên phong. Với việc xác định đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên ngang hàng với quốc phòng và an ninh, đồng thời xác định rõ các mũi đột phá – ngoại giao kinh tế, công nghệ, văn hóa - Đảng ta đã thể hiện tầm nhìn lớn và sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho một giai đoạn phát triển mới. Nền ngoại giao Việt Nam đang từng bước vươn ra thế giới với tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững.

 

Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Ngoại vụ

Các tin khác